Tiếp cận chủ đề tiểu thuyết Nho Lâm Ngoại Sử


Tóm tắt: Màn “Tế đền Thái Bá” được tác giả Nho Lâm Ngoại Sử bố trí ở trung tâm tác phẩm. Bình luận xưa nay của các nhà nghiên cứu phê bình về màn “Tế đền Thái Bá” một mặt khẳng định tinh thần chung của các nhân vật “chính diện” “lí tưởng”, mặt khác tỏ ý tiếc cho bút pháp trần thuật thiếu đi một sự sinh động, không dẫn dắt trần thuật đi tới “cao trào” và kích thích được hứng thú người đọc. Thế nhưng theo chúng tôi màn “Tế đền Thái Bá” này biểu hiện một sách lược tự sự độc đáo. Sách lược tự sự đó nhằm biểu đạt những ý vị tư tưởng chủ đề hết sức sâu sắc. Nó là kết quả của một ý thức phản tư của nhà văn đối với cả một truyền thống đọc hiểu quen thuộc. Nó dường như cũng là một sự giễu nhại thể loại và mỉa mai ngầm về mặt tư tưởng đối với tự sự sử truyện truyền thống. Cắt nghĩa được sách lược tự sự mới đó sẽ giúp ta lật lại các định kiến và kết luận khuôn sáo tồn tại dai dẳng trong lịch sử phê bình nghiên cứu tiểu thuyết này.

Từ khóa: “Tế đền Thái Bá”, Nho Lâm Ngoại Sử, sách lược tự sự, giễu nhại thể loại, mỉa mai ngầm

Narrating Tactics of the TaiBo Temple Sacrifice Offering Scene

– A New Approach to The Theme of The Scholars

Summary:

The scene of offering sacrifices to the TaiBo Temple is set in the core chapter of the book by the author of The Scholars. Critics have been commenting on the scene by affirming the morale of the principal characters, on the one hand and expressing their regrets that the unlively narration style does not lead the story to a climax and does not stimulate the reader, on the other hand. In our opinion, however, the scene of offering sacrifices to the TaiBo Temple presents a unique narrating tactic which shows a profoundly deep  meaning of the  theme. The tactic is the result of the writer’s reflection on the traditionally habitual comprehension. It seems to be not only a parody of genre but also an implicit  moral irony of traditional autobiography. The right interpretation of the new narrating tactic will help us expose the long lasting preconceptions and routine conclusions in the history of studying and criticising this novel.

Key words: offering sacrifices to the TaiBo Temple, The Scholars, narrating tactic, parody of genre, irony

Tiếp cận chủ đề tiểu thuyết Nho Lâm Ngoại Sử

từ đọc hiểu sách lược tự sự màn “Tế đền Thái Bá”

Lê Thời Tân

  1. 1.Lật lại vấn đề: Tự sự màn “Tế đền Thái Bá” có ngụ ý lí tưởng tích cực chính diện?

Màn “Tế đền Thái Bá” được tác giả Nho Lâm Ngoại Sử [1]bố trí ở hồi trung tâm tác phẩm. Đây có thể xem là hồi bản lề của tự sự toàn sách. Hầu hết các danh sĩ thời hiền hội tụ đất Nam Kinh cùng tất cả các nho nhân phái lễ nhạc binh nông (tức hầu khắp các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết) đều xuất hiện trong hồi này. Sau tế đền Thái Bá, bèo dạt mây trôi, người đi cảnh vắng. Vào cuối tiểu thuyết (hồi 55), hình ảnh tòa đền xuất hiện trở lại như một phế tích thê lương càng tô đậm thêm sắc thái tượng trưng cho vận mệnh rừng nho buổi tàn thu xế bóng. “Tế đền Thái Bá” thực ra đã được bắt đầu ám gợi trong dòng trần thuật ngay từ hồi 31. Từng bước rải rác trong suốt sáu hồi truyện kế đó, các thông tin tản mạn liên quan đến câu chuyện không ngừng hứa hẹn một sự trần thuật trực diện, tập trung để đi đến một cao trào. Thế rồi cuối cùng câu chuyện cũng đã được thực sự mở màn ở hồi 37. Vậy mà, khi diễn ra – sự trần thuật lại vô cùng nhạt nhẽo. Hội tan ai về nhà nấy. [1]

Bình luận xưa nay của các nhà nghiên cứu phê bình về màn “Tế đền Thái Bá” một mặt khẳng định tinh thần chung của các nhân vật “chính diện” “lí tưởng”, mặt khác tỏ ý tiếc cho bút pháp trần thuật thiếu đi một sự sinh động, không dẫn dắt trần thuật đi tới “cao trào” và kích thích được hứng thú người đọc. Thậm chí có ý kiến cho rằng nhà văn vì quá chú tâm vào việc trình bày tính cách lí tưởng của cái gọi là “cảnh tượng thần thánh trang nghiêm” mà đánh mất đi năng lực tự sự đầy hoạt lực vốn có của mình. Thế nhưng – như sau này chúng tôi sẽ phân tích kĩ hơn, thiếu vắng cao trào tình tiết (điều kiêng kị trong trong những cuốn thuyết có một cốt truyện rõ ràng) lại là một sách lược tự sự nhất quán trong Nho Lâm Ngoại Sử. Sau đây xuất phát từ cách đọc hiểu của mình, chúng tôi thử nêu lên vài ba điểm không thể giải thích được nếu chỉ khư khư với quan điểm đọc hiểu truyền thống nói trên.

1) Như ta đọc thấy, tình tiết nghi thức làm lễ lắp lại ba lần trong buổi tế lễ được tác giả cố tình lắp lại với số lần trần thuật tương đương (tức cũng ba lần – tự sự học nêu vấn đề quan hệ tần suất của sự kể với hành động được kể: chuyện xảy ra bao nhiêu lần thì vẫn được kể lại bấy nhiêu lượt).[2] Nghi lễ tế đền được lắp lại ba lần trên cùng một trình thức, cứ mỗi lần như vậy tác giả lại vẫn cứ tái thuật một cách tỉnh bơ y nguyên từng đó tên người, từng đó hành động, từng đó đồ vật, dụng cụ. Một nhà tự sự kém cỏi đến đâu cũng biết tránh đi một sự trần thuật lắp đi lắp lại những sự kiện tương tự bằng cách lược kể hay tóm thuật.[3] Một người vốn quen trần thuật hàm súc và giỏi kí tả nét lớn (thuật ngữ lí luận văn nghệ Trung Hoa gọi là bạch miêu) như Ngô Kính Tử vì sao lại cố tình trùng lắp rề rà như vậy ở màn tả tế đền Thái Bá?

2) Tác giả Nho Lâm Ngoại Sử không phải là người thiếu tài tả cảnh. Những trang tả Tây Hồ (hồi 14), tả Nam Kinh thập nhị lâu (hồi 53) đều là những mẫu mực của thể tản văn bút kí. Hơn nữa như độc giả từng đọc thấy, tác giả Nho Lâm Ngoại Sử cũng tỏ ra rất già dặn trong việc kết hợp bút pháp tản văn tả cảnh với thuật kể, tạo dựng tiết tấu tự sự cho tác phẩm. Vậy mà cho đến màn “đại lễ tế đền Thái Bá”, tại sao ông lại cố tình khô khan, nhạt nhẽo như vậy trong kể-tả?

3) Điển lễ kết thúc, nhà tiểu thuyết ngay lập tức trở lại với phong cách tự sự sinh động vốn có. Bước ra khỏi buổi lễ trang nghiêm, đám đông nho nhân lại quay về với sinh hoạt tầm thường. Không thể không ý thức đến một sự đối lập rõ rệt như vậy trong dòng trần thuật của tác phẩm. Ta phải lí giải như thế nào hiện tượng này?

   Rõ ràng không mạnh dạn tìm ra một hướng tiếp cận mới đối với màn tự sự tế đền Thái Bá trong Nho Lâm Ngoại Sử thì rất khó lật lại được định kiến và kết luận khuôn sáo tồn tại dai dẳng trong lịch sử phê bình nghiên cứu tiểu thuyết này. Đầu tiên cần phải thấy rằng sự thành kính đối lí tưởng của một đám nho nhân trong câu chuyện tế đền không thể là căn cứ để phán đoán một cách thật thà rằng bản thân tác giả cũng thành kính tin tưởng không kém những lí tưởng đó. Căn cứ nội dung bề mặt câu chuyện đại tế đền Thái Bá để kết luận tác giả chân thành tin tưởng tác dụng của cổ lễ cổ nhạc đối với chấn hưng thời cuộc là một cách hiểu ngây thơ nếu không nói là hời hợt. Cho dù trong đời thực, tác giả Nho Lâm Ngoại Sử từng quyên một khoản lớn cho việc tu tế đền Thái Bá ở Nam Kinh (sự việc được ghi vào trong Toàn Tiêu huyện chí – xem [2 quyển 2, tr.338]; Kim Hòa cũng có đề cập đến chuyện đó trong Nho Lâm Ngoại SửHậu Kí [1]) thì việc đó cũng không có nghĩa là trong Nho Lâm Ngoại Sử màn tế đền Thái Bá cần phải được hiểu theo chiều hướng ngợi ca lí tưởng. Một nghĩa cử, một đóng góp công ích trong đời thực của nhà văn không nhất thiết sẽ trở thành một tài liệu chính diện phục vụ cho một chủ đề đơn giản trong một trần thuật tiểu thuyết. Khảo cứu và phương pháp phân tích tác phẩm lệ thuộc vào tư liệu cuộc đời, hoàn cảnh xuất thân của nhà văn trong trường hợp này đã cầm chân các học giả. Cũng giống như việc phát hiện thấy những nét tương đồng giữa hình tượng nhân vật Đỗ Thiếu Khanh với bản thân Ngô Kính Tử đã làm cơ sở cho lập luận cho rằng đây là chân dung tự họa của chính tác giả. Đến lượt cách hiểu này lại trói buộc các nhà nghiên cứu nhất định phải cho rằng Đỗ Thiếu Khanh là nhân vật chính diện lí tưởng của cuốn tiểu thuyết. Chúng tôi không loại trừ khả năng tác giả thông qua việc xây dựng hình tượng nhằm tiến hành một sự tự phản tỉnh đối với bản thân. Tự sự trong nhiều trường hợp là một đối thoại với chính mình. Phải thấy được hiện tượng nhà văn phân thân thành một cái tôi ngoài đời (con người nhà văn) và cái tôi tự sự (hình tượng tác giả tiềm ẩn). Viết tiểu thuyết là một cách sống lại nhiều cuộc đời trong cuộc thế của bản thân một tác giả. Chỉ như vậy tiểu thuyết mới khám phá được những chân lí nhân sinh sâu sắc.

  1. 2.Đào sâu vấn đề: Sách lược tự sự hàm chứa sự giễu nhại thể loại và mỉa mai văn hóa thâm trầm

Chu Nguyệt Lượng tỏ ra đã cảm nhận được tinh thần chung tác phẩm của Ngô Kính Tử khi viết: “Tiểu thuyết Ngô Kính Tử là tiếng nói tự sự tự giác của văn nhân. Tiếng nói đó đã khiến cho tiểu thuyết Trung Quốc thoát khỏi những cái khuôn đề tài chiều chuộng thị hiếu thông tục như minh quân hiền tướng, côn quyền đao kiếm, tài tử giai nhân, khởi nghiệp đổi đời… Cũng chính vì thế mà tác phẩm vĩ đại của họ Ngô mới bị các đồng bào nhuốm nồng “mùi Tam Quốc”, “mùi Thủy Hử” không đọc hiểu được mà cũng không muốn đọc. Chủ ý và thế giới mà Nho Lâm Ngoại Sử mô tả không đi theo tâm lí của đám đông thị dân và hình thái ý thức chính thống. Nho Lâm Ngoại Sử tiến hành một sự phản tư đối với những chỗ dựa của cả một cách sống lâu đời, cật vấn tính hợp lí của chúng. Trong tiểu thuyết cổ Trung Quốc, trừ Hồng Lâu Mộng ra không còn tác phẩm nào nồng đượm nỗi hoài nghi ân cần tha thiết, lí trí sáng suốt, tính cách tôn nghiêm của nhân tính như là Nho Lâm Ngoại Sử” [4].

Đã đến lúc cần phải đặt câu hỏi tại sao chúng ta cứ nhất nhất phải hiểu màn tế đền Thái Bá trong Nho Lâm Ngoại Sử là phản ánh một lí tưởng tích cực? Vì vậy mà sau khi gắng gượng đọc hết hồi truyện nhạt nhẽo này chỉ để cảm thấy “tư tưởng của tác giả thiếu sức sống”? Nếu bản thân câu chuyện tế đền bản thân nó quả đơn điệu đến vậy, nhạt nhẽo đến vậy và tác giả thực ra là đang muốn cho ta thấy được sự nhạt nhẽ và đơn điệu không cách khắc phục của chính bản thân câu chuyện thì chúng ta vì lí gì mà yêu cầu một sự trần thuật sinh động và thú vị? Chúng tôi không đồng ý với phân tích của giáo sư Hạ Chí Thanh trong Trung Quốc cổ điển tiểu thuyết sử luận.[4] Nhà nghiên cứu cho rằng Ngô Kính Tử khi viết hồi truyện này bản thân ông “cũng nghiêm túc tin tác dụng giáo hóa của cổ nhạc, cổ lễ”. Nhà nghiên cứu cũng quy chuyện nhạt nhẽo trong trần thuật của hồi này vào việc nghèo nàn kĩ xảo tự sự: “Ngô Kính Tử chưa có thể có được kĩ xảo tự tự sự này (trần thuật phối hợp từ nhiều nhãn quan – LTT). Bởi vì cho đến thời hiện đại, tiểu thuyết Trung Quốc đều trần thuật từ điểm nhìn của một ngôi nhân xưng thứ ba bao quát và biết hết tất cả”.[5] Hạ Chí Thanh đã cho rằng, Ngô Kính Tử rốt cuộc chỉ đưa đến cho độc giả một sự tường thuật đơn điệu quá trình tế lễ và ông đã đưa đến cho độc giả điều đó “một cách trang nghiêm” [5].

Theo chúng tôi ở đây không phải là vấn đề khuyết khiếm của kĩ xảo tự sự. Độc giả từng chứng kiến sự sinh động trong bút pháp tự sự của tác giả Nho Lâm Ngoại Sử ở chẳng hạn  những trang kể chuyện các nhân vật Chu Tiến, Phạm Tiến, Khuông Siêu Nhân… Phối trộn nhiều nhãn quan trong trần thuật quả là một kĩ xảo hiện đại, nhưng trần thuật từ một điểm nhìn toàn tri phổ biến trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc có bao giờ thuần túy là sở hữu toàn phần của một ngôi thứ ba? Những trang miêu tả cảnh Tây Hồ (hồi 14) còn gì là ý vị nếu không “thẩm thấu” vào trong đó ánh mắt của ông đồ gàn Mã Nhị? Chúng tôi cho rằng sự nhạt nhẽo của trần thuật màn tế đền Thái Bá ẩn chứa một sự trầm mặc của nhà tự sự. Sự trầm mặc này biểu thị một tinh thần tự ý thức và thái độ phản tư đối với cái gọi là cuộc biểu dương lễ nhạc cổ điển. Nhà bình điểm Nho Lâm Ngoại Sử lớn nhất của thời hiện đại – giáo sư Trần Mĩ Lâm phê bình: “Hồi này (… …) là cao trào của sự phát triển tình tiết tác phẩm, (… …) mặc dù cụ Văn Mộc đã ra sức nhiều, (… …) thế nhưng vẫn hết sức nhạt nhẽo, không có lấy một chút lay động nghệ thuật nào”. [1 tr.416][6] Chúng tôi ngược lại cho rằng, Ngô Kính Tử đã cố ý kìm tránh và giải trừ cao trào tình tiết nhằm một dụng ý chủ đề rất sâu xa. Nhà tự sự cố tình giội một gáo nước lạnh xuống kì vọng của độc giả. Đây không phải là lần đầu tiên, tác giả thực hiện điều đó. Xin đọc lại chẳng hạn câu chuyện Trang Trưng Quân triều kiến hoàng đế (hồi 35). Độc giả quen với Tam Quốc Diễn Nghĩa đọc đến đây sẽ chờ đợi một màn tương tự “cuộc luận về đại thế thiên hạ” kiểu “náu thân Long Trung mà biết thiên hạ chia ba”. Vậy mà cuối cùng – bất ngờ đến vô duyên: Trang chuẩn bị trả lời hoàng thượng thì chẳng biết đâu ra một con bọ cạp đốt thẳng vào đầu khiến Trang đau đến mức chỉ đành xin vua về nhà trả lời bằng bản tấu. Cuộc triều kiến bỗng dưng màn hạ (thực ra rất có thể là “quân sư” diện trang phục mới vào chầu nên bọ cạp ẩn mình trên khăn đội đầu mà không biết!). Hoặc hồi 34 kể chuyện hiệp khách họ Tiêu đêm trăng bắn nỏ, bách phát bách trúng. Bạn đọc quen với Thủy Hử cũng chờ đợi một phát bắn đảo ngược tình thế. Vậy mà đúng lúc bọn phỉ xung trận, nỏ của người anh hùng hảo hán bỗng dưng đứt dây (chú ý: cũng chính Trang Thiệu Quang chứng kiến vụ này. Lúc đó “Trang ngồi trong xe, hồi lâu không nói ra lời” – cứ tưởng Trang không được như Khổng Minh điềm nhiên phẩy quạt thì cũng không đến nỗi sợ như vậy)! Những tưởng chàng tráng sĩ nỏ đứt dây thì rút đoản đao tả xung hữu đột, đường nay lại “sợ đến nỗi quay đầu ngựa chạy liền” (hồi 34) [1 tr.380; 2 tr.130). Ngay từ đầu sách, độc giả Nho Lâm Ngoại Sử từng bị cụt hứng ở màn tự sự “bữa tiệc đầu người” – đỉnh cao của câu chuyện nhị vị huynh đệ công tử họ Lâu giao du với kiếm khách giang hồ họ Trương biệt hiệu Cánh Tay Sắt (trong tiểu thuyết thường gọi là Trương Thiết Tý, hồi 12). Những người từng thuộc Sử Ký không biết sẽ có cảm giác gì khi đọc đến đoạn bữa tiệc đãi khách du hiệp chốc lát phá sản vì cái đầu heo! Chừng nào mà ta chưa thấy được ý thức đối thoại thể loại của tiểu thuyết gia họ Ngô với tự sự sử truyện truyền thống, chưa thấy được thái độ phản tư của nhà văn đối với cả một truyền thống đọc hiểu quen thuộc thì bình luận về Nho Lâm Ngoại Sử mãi quẩn quanh với những cách nói quen thuộc. Đã đến lúc cần phải nêu câu hỏi – nếu tác giả quả thực chẳng kì vọng gì vào cuộc tế lễ vô vị, nhạt nhẽo đó và kiên trì một bút pháp trần thuật cố tình đơn điệu thì rốt cuộc ý đồ nghệ thuật thực sự của tác giả tiểu thuyết là ở đâu?[7]

Trần thuật màn tế lễ tỏ ra cố tình nghiêm trang chân thành đến độ quá thể. Một vẻ cố tình nghiêm trang chân thành trêu ngươi lòng kiên nhẫn của độc giả, kích gợi độc giả kéo tuột tấm màn của uy nghiêm đạo mạo đang phủ lên một thực chất nực cười (ta sẽ còn gặp lại một thái độ trần thuật tương tự ở hồi cuối cùng – một hồi mà sự phúng nhại kí tải sử truyện bao phủ trên quy mô toàn hồi[8]). Giáo sư Trần Mĩ Lâm nói: “(hồi 37) hết sức nhạt nhẽo, không có lấy một chút lay động nghệ thuật nào. Đây chỉ là một sự đồ giải cho tư tưởng của cụ Văn Mộc (tên tự của Ngô Kính Tử-LTT) mà thôi. Nó khiến độc giả khó mà đọc cho đến hết” (Phần bình sau hồi truyện) [1 tr.416]. Theo ý chúng tôi, nói hồi này khó mà đọc cho đến hết chi bằng nói cuộc tế này khó mà xem cho đến kết. Vốn nó cũng không đáng viết, chưa nói đến chuyện không đáng đọc đến hết! Có điều một khi câu chuyện tế lễ đã xuất hiện trong trong tác phẩm thì nhiệm vụ của người người nghiên cứu là phải giải thích được nguyên do tại sao. Ngô Kính Tử với một sách lược tự sự mới, quyết tâm thách thức tâm lí đọc hiểu truyền thống. Mục đích của ông là thông qua một bề ngoài trần thuật nghiêm trang, trịnh trọng và đĩnh đạc cố ý, kín đáo ám thị độc giả cảm nhận được thực chất ấu trĩ, ngây thơ, vô tích vị của câu chuyện được kể. Nếu điều đó xẩy ra, nhà tự sự đã thành công! Đợi đến về sau khi đọc đến những trang tả cảnh Đền Thái Bá hoang tàn đổ nát (hồi 48 và hồi 55; Đặt trong tình tiết vãn cảnh của một vài nhân vật đi thăm thành Nam Kinh, nhà tự sự đã khéo léo hai lần trở lại với ngôi đền trùng tu tế lễ năm xưa), độc giả mới càng thấm thía hơn tính chất hoạt kê ngấm ngầm và phúng dụ kín đáo của một câu chuyện cứ là như thật – câu chuyện đám nho nhân những toan tổ chức đại sự kiện văn hóa để chấn hưng thế cuộc!

Thực ra, nếu ta chấp nhận được hành động tự sự “sao lục” một loạt những là “thượng dụ”, “tấu sách”, “văn tế” ở hồi chót của tiểu thuyết, thì tại sao ở hồi 37 đại tế đền Thái Bá này ta lại không chấp nhận một lối tự sự kiểu – tạm dùng thuật ngữ của tự sự truyền hình hiện đại – “tường thuật trực tiếp” (trong thời đại dịch vụ hóa ngày nay đã xuất hiện cách nói – “tổ chức và sản xuất sự kiện”!)? Một sự trần thuật trùng lặp ba lần trong văn bản tiểu thuyết một tình tiết hành động tế lễ cũng được tiến hành ba lượt lắp lại trong thực tế, quả thực đã trêu ngươi lòng kiên nhẫn của bạn đọc. Độc giả (cũng như những người tham dự theo dõi nghi thức hành lễ) tự hỏi đám sĩ nhân sắp hàng vào chỗ, tiến lên bái lạy, lùi xuống bình thân rồi lại vào vị trí, tiến lên bái lạy, lùi xuống bình thân trong chiêng trống theo bài – cứ vậy lặp lại tam ba bận chỉ đổi người, đổi đồ lễ và lời khấn tấu – là để làm gì? Cái gọi sự kiện lễ nhạc văn hóa trọng đại mà thực tế đầu voi đuôi chuột, nghèo nàn và đơn giản về nội dung đến mức chỉ biết tam ba bận một tiết mục vậy thôi sao? Khách tham quan hiếu kì cũng như những bạn đọc chỉ quen với cốt truyện thắt mở nút hẳn là đã sớm bất mãn ra mặt rồi!

Ta hãy lần lại nguồn mạch tự sự của cái gọi là câu chuyện tế đền Thái Bá ở hồi 37 này. Chuyện tế đền Thái Bá được chính thức nhắc đến lần đầu ở hồi 33. Khi đó, nhà “phát động sự kiện” Trì Hành Sơn đề xuất ý định xây lại đền và dự thảo kế hoạch tế lễ. Ngay trong đề mục hồi và cặp đối ngẫu kết hồi đều đã có nhắc đến sự kiện tương lai này. Sang hồi 34 câu chuyện vẫn được loáng thoáng đề cập trong dòng trần thuật. Qua hồi 35, chuyện tế đền bị cắt ngang mấy lần do việc trần thuật chuyển sang chuyện nhân vật Trang Trưng Quân. Dù vậy ở cặp câu đối ngẫu kết hồi 35, ta vẫn đọc thấy thông tin về việc tế lễ. Trong suốt ba hồi 33, 34, 35 này, cứ mỗi lần câu chuyện tế đền được nói đến là mỗi lần nó bị gián đoạn bởi môt chuyện khác nào đó. Lần thứ nhất (hồi 33) Trì Hành Sơn vừa mang chuyện ra bàn thì đột nhiên Đỗ Thiếu Khanh có người nhà đến gọi. Lần thứ hai (hồi 34), việc xây đền đã “thành hình có dạng” (lời của chủ chòm Trì Hành Sơn). Bản thảo về nghi lễ do Trì soạn theo ý của Đỗ cần được đưa đến cho Trang Trưng Quân cân nhắc một lượt. Thế nhưng mang được đến nơi thì Trang lại phải lên kinh triều kiến. Việc tế đền đành gác lại. Tới lần thứ ba, Trang về san định xong bản dự thảo thì lại còn phải đi mời Ngô Dục Đức làm chủ tế. Thế nhưng cho đến hồi 36, chuyện lại dừng lại vì một trường đoạn kể chuyện thân thế hành tung của Ngu Dục Đức… Độc giả có cảm tưởng nhà tự sự không ngừng gây dựng tâm lí đợi chờ nơi người đọc để nâng cao tầm quan trọng của chuyện sắp được kể ra.  Ấy vậy mà cho đến lúc cuộc đại tế con người “đệ nhất hiền nhân”, “đại thánh nhân” nghìn xưa Thái Bá thực sự nổi chiêng động trống thì trái với kì vọng lâu nay – sự kiện diễn ra lại đơn điệu nhạt nhẽo vô cùng, xem ra chỉ làng nhàng thế thôi. Cảm giác đó càng lên sắc lên hương hơn khi ngay sau tế lễ hạ màn, trần thuật tiểu thuyết lại quay ngay về với những dung tục tầm thường quen thuộc của đám người vừa bước ra từ lễ hội: lang trung Trương Tuấn Dân lòi chân tướng khách giang hồ thay tên đổi họ, nho nhân Tiêu Kim Huyền thiếu nợ tiền cơm, các danh sĩ ai về nhà nấy. Cái “đại sự kiện văn hóa” kia như đá ném ao bèo thế cuộc. Một người dân sở tại phát biểu cảm tưởng: “Chúng tôi sống tại thành Nam Kinh này bảy tám mươi năm nay chưa từng thấy, từng nghe lễ hội, đàn sáo trống chiêng nào như thế! Các cụ đều nói ông quan chủ tế là vị thần tiên giáng trần cho nên tranh nhau ra xem”. Xem ra trong mắt dân chúng buổi lễ kỉ niệm danh nhân kia chẳng qua cũng chỉ là một cuộc tế đền có diễn tấu, còn ngài chủ lễ thì cũng chỉ là kẻ ốp đồng cho vị thần nào đó mà thôi. Cuộc “diễn tập lễ nhạc văn hóa”, “bồi dưỡng nhân tài”, “trợ giúp chính giáo” (hồi 33) [1 tr.309]. thực tế biến thành một tiết mục trò diễn sân khấu ngoài trời cho dân xem mà thôi.

Thế nhưng, thử hỏi những nhà nho kia còn có thể làm được gì hơn thế? Thi không đậu, lăn lóc với cuộc mưu sinh. Thỉnh thoảng lắm mới có một cuộc tụ họp mà phí tổn còn phải góp quanh – các nho nhân này dường như muốn mượn dịp để tìm lại cho mình chút sức mạnh giai tầng, hàng ngũ. Hội thơ xướng họa, tổ chức giải thưởng diễn kịch, kết nhóm vãng cảnh, đàm đạo… đó đều là những hoạt động giúp họ khẳng định sự tồn tại của “sĩ” như là một lực lượng – cái lực lượng mà mệnh quan sở tại có thể giải tán bất cứ lúc nào (chỉ cần sai một mấy tên lính trong nha môn cầm tờ trát đến! Thực tế không ít cảnh trần thuật trong tiểu thuyết cho ta thấy quan sở tại cho lính chen ngang một cuộc tụ họp nào đó của nho nhân để bắt người trong đám). Miêu tả sinh hoạt tinh thần tầng lớp sĩ nhân lới dưới trong Nho Lâm Ngoại Sử khiến độc giả liên tưởng tới quang cảnh đám quý tộc cuối mùa tụ tập trong các sa lông hay quán rượu nhỏ thanh nghị chuyện nội các xuất hiện trong một số tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa của văn học châu Âu. Lễ tế đền Thái Bá suy cho cùng cũng chỉ là một cuộc diễn, có thể là hoành tráng và khí phách hơn những lần Đại yến hồ Oanh Đậu (hồi 12) hay tụ tập hồ Mạc Sầu (hồi 30). Là bởi vì trong lần này, các nho nhân không chỉ là người giám thưởng mà bản thân cũng là những “diễn viên” để vào vai. Ấy vậy mà đó cũng chỉ là một màn tự biên tự diễn, tự mình quảng cáo mà thôi.

Ai dám tin rằng chỉ nhờ vào một ngôi đền cùng một lần làm mẫu lễ nhạc đó mà có thể “bồi dưỡng nhân tài”, “trợ giúp chính giáo”?[9] Cứ như lời nhà đề xướng Trì Hành Sơn thì việc tế đền sẽ là một việc xuân thu nhị kì duy trì lâu dài. Thế nhưng thực tế trần thuật ám thị độc giả cuộc tế chỉ có một lần xuân này thôi (quả nhiên cho đến thu sang, nho nhân đã bèo dạt mây trôi. Chỉ cần xem màn “hiền nhân tiễn biệt nhân ngày trùng cửu” hồi 46 là đủ biết). Vả chăng cũng không thấy ban tổ chức lễ tế hẹn dịp tế lần sau. Lễ tan ai về nhà nấy. Như mấy sĩ nhân nhóm Tiêu Kim Huyền sở dĩ còn lần khân ở lại ấy là vì còn nợ quán tiền ăn tiền rượu. Một khi được Đỗ Thiếu Khanh “trả hộ hai lạng bạc, ba người tất cả ai cũng về nhà” (hồi 47) [1 tr.413].

Nói tóm lại, câu chuyện lễ tế đền Thái Bá là câu chuyện một đám nhà nho vì không tiến vào được trung tâm hoạt động văn hóa chính trị xã hội đành lòng tụ tán bên rìa thời cuộc. Một lúc kia mơ màng dưới bóng râm của truyền thuyết bèn gom dồn một đống những là “vật dụng kiểu cổ”[10] tự biên tự diễn mấy màn kịch. Các vai diễn tự sung sướng với các hình tượng “nho giả” “danh sĩ” cùng “cổ nhạc” “cổ lễ” mà không biết rằng buổi diễn có thể bị giải tán tức thì nếu quan sở tại cho xuống trát vời ra nha môn. Suy cho cùng đây cũng chỉ là những “con người thừa” của thời đại. Bất đắc chí đường cử nghiệp hiện tại, đám nhà nho đành vui với việc khảo cổ quá khứ, tìm kiếm chút an ủi từ cái hình tượng “đệ nhất hiền nhân”, “đại thánh nhân” nghìn xưa.

Cũng có thể hiểu màn tế đền Thái Bá trong Nho Lâm Ngoại Sử như là một  buổi lên lớp bài học “trị quốc bằng lễ nhạc” (nói gọn là văn trị) của các nho nhân. Xem ra giấc mộng “đế vương sư” (thầy học của thiên tử) ám ảnh sĩ nhân Trung Hoa biết bao thế hệ. Ngô Kính Tử lẽ nào không biết ngay từ thời đại của người mà về sau đế vương nịnh hờ bằng mấy chữ “vạn thế sư biểu”, lễ nhạc đã đổ đốn rồi hay sao. Ngay từ đầu cuốn tiểu thuyết ông đã mượn mồm nhân vật nhà nho Mã Thuần Thượng nói toạc ra mối quan hệ giữa quân quyền với đạo học: “Thời Khổng Tử có cái học của thời Khổng Tử. Khổng Tử cũng phải đi thi”.

  1. 3. Mở rộng vấn đề: Từ tiểu thuyết quay lại với điển tịch – một cách đọc liên văn bản

Vậy mà theo ý chúng tôi, toàn bộ những phân tích trên đây có thể vẫn chưa chạm được vào phần cốt lõi trong tư tưởng của tiểu thuyết gia. Chúng tôi cho rằng màn tế đền trần thuật ở phần trung tâm cuốn tiểu thuyết này còn gợi ý cho ta một cách đọc khác đối với điển cố Thái Bá trong văn hóa Trung Hoa. Rất có thể Ngô Kính Tử có một cách hiểu riêng của mình về chuyện Khổng Tử ngợi khen Thái Bá.[11] Ta thử tiếp cận trở lại tư tưởng Khổng Tử từ một góc độ mới, cố gắng xét lại thành kiến cho rằng Không Tử thực tâm ủng hộ quân chủ chuyên chế. Chúng ta phải thấy được rằng, trong thực tế trừ phi những người ngay từ đầu đã ẩn mình núi vắng (như Vương Miện ở đầu tiểu thuyết chẳng hạn) còn thì muốn lập đức lập ngôn lập công dấn thân xã hội thế tất phải chung đụng cùng cuộc thế. Khổng Tử ngay từ đầu đã là một nhà hoạt động thực tiễn. Sống trong một thời đại quân chủ chuyên chế, Khổng Tử dẫu sao cũng phải nhượng bộ hoàn cảnh. Giống như Hegel mặc dù rất tôn sùng Đại cách mạng Pháp nhưng vẫn ngợi ca nền quân chủ nước nhà. Thời đại Nghiêu Thuấn thực tế ra sao, ngày nay thực khó mà tưởng tượng. Thế nhưng lịch sử nhân loại chắc chắn từng có những lúc Nghiêu Thuấn thật. Đó chính là thời đại mà Âu châu sử gọi là cảnh tượng La Mã thịnh thế (30 tr.CN-180, Pax Romana). Trong thời đại đó một loạt “Nghiêu Thuấn Tây phương” Nerva, Trajan, Hadrien, Antonin và Marc Aurele đã trị vì đế chế. Đương nhiên các hoàng đế đó không phải do nhân dân tuyển cử (Nghiêu Thuấn có thể là do thị tộc chọn ra). Thực tế thì Trajan và Hadrien không có con trai còn Antonin thì con chết yểu. Các minh quân này đã chọn nhận những người tài đức làm con nuôi, dạy họ công việc trị quốc, từng bước giao quyền quản lí quốc gia người kế vị. Bậc minh quân sau cùng của thời đại thăng bình La Mã là Marc Aurele quyên chỉ định người kế vị. Người con ruột của bậc minh quân kiêm nhà hiền triết này là Comode lên ngôi. Thiên hạ lập tức đại loạn. Thời đại truyền hiền của La Mã cáo chung, chấm dứt cảnh tượng thanh bình thịnh thế nhân dân yên hưởng hạnh phúc. Cũng có thể là, thời đại Nghiêu Thuấn truyền hiền của Trung Hoa cũng như thời đại La Mã thăng bình kia chẳng qua chỉ là một may mắn của lịch sử. Mà có khi đó rốt cuộc chỉ là một giấc mơ thần thoại của con người khi đã sống trong dằng giặc quân quyền tông pháp.[12]

Đọc các tài liệu chép chuyện Thái Bá (Luận Ngữ, Sử Kí) ta thấy trong câu chuyện này có chủ đề lễ nhượng (tạm hiểu nôm na là nhường ngôi một cách lịch sự) và chủ đề truyền tử hay truyền hiền. Chủ đề “lễ nhượng” được tầng lớp thống trị các đời nhấn mạnh. Vậy tại sao Khổng Tử – một người đặc biệt tôn sùng Nghiêu Thuấn lại không hay nói đến vấn đề “lễ nhượng” và chỉ ca ngợi chuyện nhường để trốn tránh (tị nhượng) của Thái Bá? Phải chăng ấy là vì Phu Tử ý thức được tới thời ngài đang sống mà còn bàn nhiều về chuyện nhường ngôi kiểu mẫu Nghiêu Thuấn thì sẽ không còn được hoan nghênh nữa? Có thể Khổng Tử cho rằng hành động của Chu Thái Vương chưa đủ để được xem là thực sự truyền hiền? Hay ông cảm thấy bàn luận lịch sử muốn trở nên chu toàn thì phải kết hợp cả hai vấn đề “lễ nhượng” và “truyền hiền”? Hay bởi vì trước đó ông đã từng khen ngợi Nghiêu-Thuấn truyền ngôi cho người hiền ngoại tộc nên giờ đây ông cảm thấy cũng cần phải nói chuyện lễ nhượng truyền hiền trong họ? Bất kể thế nào thì trong câu chuyện này Thái Bá trước sau vẫn là nhân vật chính. Chuyện lễ nhượng không làm mờ nhạt được tình tiết quan trọng (plot-elements) – Thái Bá đào tẩu ra miền đất man đất trại biên viễn hẻo lánh. Đương nhiên đối với độc giả hiện đại, toàn bộ những chuyện đó chỉ là truyền thuyết. Ngay thời Khổng Tử, Nghiêu Thuấn hay Thái Bá đều đã là truyền thuyết rồi. Các truyền thuyết lại được Nho gia tự sự lại thành kinh điển truyền đời. Thế nhưng ta vẫn không ngại tìm kiếm những ý tứ mơ hồ tuồng như là những “tiềm thức của lịch sử” nào đó giấu mình dưới bề mặt của câu chuyện. Độc giả ngày nay không ngại lật trở những trần thuật đó để phát hiện những nét nghĩa dù là mơ hồ bộc lộ tâm ý và động cơ của nhà tự sự.

 Khổng Tử tán dương thời đại hoàng kim Nghiêu Thuấn, cho rằng dưới thời của các vua hiền đó dân chúng được sống đời hạnh phúc. Từ sau Khổng Tử, các nhà Nho cũng đều cho là như thế. Chúng ta có thể phỏng đoán, Khổng Tử thực tâm không thích chế độ tông pháp cha truyền con nối. Chỉ có điều ông không nói thẳng được ra mà thôi. Khi Khổng Tử ra đời chế độ thế tập truyền tử đã là một thực tế lâu đời. Đức Thánh đã sống trong thời đại truyền tử thế tập nên cũng chỉ đành một mặt lấy truyền thuyết cổ nhân ra giáo huấn hiện tại mặt khác hô hào giáo dục, đề xuất thuyết chính danh hòng cải thiện thế đạo, khắc phục những tệ đoan của chế độ hiện thực [9 tr.134].

Cái con người một đời bôn ba tìm minh quân thực thi học thuyết mà rốt cuộc phải than dài “đạo ta không được nữa” (ngô đạo bất hành) đó cuối cùng chắc đã tìm thấy trong câu chuyện Thái Bá một vài bấu víu về mặt tinh thần. Việc Khổng Tử tôn sùng hành động nhường thiên hạ của Thái Bá có thể đã biểu lộ một cách vô thức sự đầu hàng nhượng bộ thời cuộc của chính ông. Rất nhiều học giả đã cảm nhận được mùi vị tinh thần câu chuyện Hứa Do trong hành động trốn chạy ra miền đất hoang của Thái Bá. Việc các nhà nho đời này qua đời khác không ngừng tô đắp cho cái con người mà trên thực tế rất có khả năng chỉ là một kẻ tỵ nạn chính trị đơn thuần thành hình mẫu của thuyết lễ nhượng phải chăng cũng chỉ là chuyện trông mai đỡ khát, mượn cổ ngụ kim, lí giải lịch sử theo khát vọng của mình mà thôi. Nếu lí giải như vậy ta sẽ hiểu được tại sao đền Thái Bá ở đất Ngô trong thực tế phối thờ 500 hiền nhân mà khi đi vào câu chuyện Nho Lâm Ngoại Sử, Ngô Kính Tử trước sau chỉ nhắc một mình Thái Bá.

Chúng tôi mạo muội cho rằng, tác giả tiểu thuyết tụ tập đám nhà nho bất đắc chí kia lại trước sân đền Thái Bá làm một cuộc quỳ quỳ vái vái tế một kẻ không-nhường-ngôi-không-đượcnhượng-rồi còn-phải-bôn-tẩu xa tít tận nơi hoang vu là có một ẩn ý tự sự sâu sắc kín đáo. Ẩn ý này cũng tương thông nhất quán với chủ đề trung tâm của tiểu thuyết – độc tài xua đuổi hiền nhân ra bên rìa đời sống văn hóa xã hội. Đợi đến lúc đọc đến hồi áp chót, cùng theo chân nhân vật Cái Khoan lên Vũ Hoa Đài ngắm cảnh đền Thái Bá tàn tạ tiêu sơ, độc giả mới chợt ngộ ra một điều là: Thà để cho đại hiền tiền nhân Thái Bá ngủ vùi trong tấm chăn truyền thuyết ấm áp của Nho gia còn hơn là thình lình dựng ông ta dậy trong một đại điển lễ chỉ thực hiện một lần trong một ngôi đền sau đó không tiền duy tu bảo dưỡng. Một truyền thuyết mĩ miều sẽ sống mãi trong ẩn hiện mơ hồ của kí ức, trong lúc những hành động nhất thời – cho dù có rầm rộ, long trọng đến cỡ nào, được nhà đương cục hay đại diện ý thức hệ đường đường chính thống ủng hộ tổ chức hay cấm đoán, dè chừng – cuối cùng cũng chỉ là thoáng qua của lịch sử!

Thế nhưng, như trong Nho Lâm Ngoại Sử – nói đi còn phải nói lại, ngoài những cuộc tụ tập cao nhã bầu rượu túi thơ, xem kịch bình văn, thanh nghị thời đàm (hoặc nói như tục ngữ ta “ăn cơm tấm nói chuyện triều đình”)…, nếu mà không để cho nho nhân nhã sĩ xuất hiện đông đảo lấy một lần trong một đại sự kiện có màu sắc văn hóa chính trị kiểu tế đền Thái Bá kia để đặng phô trương chút lực lượng và lòng tự tôn thì còn có dịp nào cho sĩ bộc lộ mình như là một giai tầng đoàn thể dẫn đường cho văn hóa  nữa đây? Những ẩn ý tự sự sâu xa trong trần thuật tế đền Thái Bá của Ngô Kính Tử khiến cho chủ đề của cuốn tiểu thuyết vươn đến một tầm cao đáng nể. Đáng tiếc trong suốt trường kì nghiên cứu, màn Tế đền Thái Bá trần thuật ở trung tâm tiểu thuyết lại không từng được cắt nghĩa một cách thấu đáo!

                                                                                                                                                                         Thiên Tân 2004

                                                               Viết lại nhân dịp Đại Lễ 10/10/2010 Hà Nội

                                                                                       Sửa lần chót 2015

——————————-

Chú thích

[1] Nho Lâm Ngoại Sử bản dịch tiếng Việt Chuyện Làng Nho. Tất cả các đoạn dẫn tác phẩm trong bài này đều dẫn dịch từ [1] 清凉布褐批评儒林外史, 新世界出版社 出版Nho Lâm Ngoại Sử, Tân thế giới xuất bản xã, 2001; Số trang đối ứng bản dịch ở đây thống nhất dẫn theo bản dịch tiếng Việt [2] Chuyện Làng Nho, Nxb.Văn Học, 2001. Chuyện “Tế đền Thái Bá” như tuồng phải là cao trào của của câu chuyện toàn tiểu thuyết. Màn trần thuật này được bố trí ở trung tâm tác phẩm (hồi 37). Bản dịch tiếng Việt Chuyện Làng Nho chỉ dịch bước đầu của lễ tế rồi tóm thuật màn trần thuật cố tình trùng lắp trong nguyên tác bằng câu: “Lễ tiếp tục cho đến khi hết” kèm một chú thích: “Trong nguyên văn có cả ba lần cũng tỉ mỉ như lần thứ nhất và cũng in hệt như lần thứ nhất chỉ thay đổi người mà thôi. Ở đây chúng tôi lược bớt vì bạn đọc sẽ cho là thừa” [2 tr.173]. Trong nguyên tác cuộc đại tế đó diễn ra theo nghi thức ba bước, các bước về cơ bản diễn ra như nhau chỉ thay người chủ tế. Nhà tự sự “kiên nhẫn” tường thuật hiện trường từng bước một. Tự sự học khi phân tích quan hệ giữa thời gian trần thuật và thời gian câu chuyện đã nêu các trường hợp như tĩnh lược-nhảy cóc trong kể, tóm thuật-kể tắt và tường thuật hiện trường-kể hoàn nguyên. Ngoài ra khi phân tích tần suất trần thuật, tự sự học cũng nêu vấn đề kể một lần chuyện xảy ra một lần, kể nhiều lần chuyện xảy ra một lần, kể mấy lần chuyện chỉ diễn ra có một lần…Ngô Kính Tử trong trường hợp trần thuật lễ tế đền Thái Bá này có lẽ là đã tường thuật hiện trường-kể hoàn nguyên theo cách kể nhiều lần một việc diễn ra nhiều lần tiếp nối. Sách lược tự sự đó  theo chúng tôi nhằm biểu đạt những ý vị tư tưởng chủ đề hết sức sâu sắc. Ngày nay sống trong thời đại có truyền hình trực tiếp với đủ loại sự kiện lễ lạt kỉ niệm được tổ chức dày đặc, gẫm lại màn trần thuật bị cho là đĩnh đạc một cách ngây thơ và khô khan này trong tự sự Nho Lâm Ngoại Sử quả là một việc nên làm. Đây chính là lí do vì sao có bài viết này.

[2] Như đã nói ở chú thích 1, bản dịch tiếng Việt chỉ dịch lần tế thứ nhất rồi chú thích nguyên do vì sao lược không dịch đầy đủ [2 tr.173].

[3] Cũng như ngược lại, nhà tự sự sẽ chuyển hóa sự miêu tả cảnh tĩnh thành kể thuật hành động sinh động. Lessing đã chỉ ra điều đó bằng việc phân tích đoạn tả các họa tiết trên chiếc khiên của Achilles trong sử thi Illiade.

[4] Hsia Chih-tsing, The Classic Chinese Novel: A Critical Introduction. Chúng tôi dẫn từ bản dịch tiếng Trung [5]中国古典小说史论 (江西人民出版社, 2001). Trung Quốc cổ điển tiểu thuyết sử luận (chương Nho Lâm Ngoại Sử), Giang Tây nhân dân xuất bản xã, 2001.

[5] Nhận định này có đúng với thực tế nói chung hay không chúng ta hẵng chưa bàn đến.

[6] Phần bình sau hồi truyện. Các chỗ (… …) trong đoạn trích biểu thị người dẫn đã lược đi.

[7] Chúng tôi cứ băn khoăn tự hỏi rốt cuộc thì sự giễu nhại cả một truyền thống văn hóa của tác giả Nho Lâm Ngoại Sử sẽ còn làm cho những độc giả của Hán Sử Kí, Đường truyền kì, của Tam Quốc, Thủy Hử bất mãn đến bao giờ? Nhân tiện cũng nói thêm, những độc giả ruột của Kim Bình MaiHồng Lâu Mộng chắc cũng  không hài lòng lắm khi đọc những trang thuật chuyện uyên ương hay cảnh lầu xanh trong Nho Lâm Ngoại Sử!

[8] Chúng tôi theo quan điểm Nho Lâm Ngoại Sử 56 hồi (bản dịch tiếng Việt theo dùng vănbản 55 hồi).

[9] Cũng thực khó tin như việc L.Tolstoi cho rằng trở về với tinh thần tôn giáo nguyên thủy, phổ cập giáo dục và làm việc thiện thì sẽ cải tạo được nước Nga vậy.

[10] Cách gọi ở hồi hồi 55, đoạn kể chuyện Cái Khoan cùng cụ già hàng xóm đi thăm phế tích đền Thái Bá. Cụ già nói cùng Cái Khoan: “Năm xưa, Trì tiên sinh mua biết bao nhiêu đồ đạc, đều theo kiểu cổ chất cất trong mấy cái tủ kê dưới lầu. Đến nay, cả đến tủ đựng cũng chả thấy đâu nữa!” (hồi 55) [1 tr. 586].

[11]Trong Luận Ngữ có chép: “Khổng tử nói: Thái Bá có thể nói là bậc phẩm đức cao thượng tuyệt vời, bao lần nhượng ngôi trị vì thiên hạ. Nhân dân thực không biết khen ngợi ông như thế nào nữa!” (Tử viết: Thái Bá, kì khả vị chí đức dã dĩ hĩ! Tam dĩ thiên hạ nhượng, dân vô đắc nhi xưng yên (論語·泰伯Luận Ngữ-Thái Bá đệ bát, đoạn thứ nhất). Tư Mã Thiên cũng chép chuyện Thái Bá trong Ngô Thái Bá thế gia: “Ngô Thái Bá cùng em là Trọng Dung đều là con của Chu Thái Vương và là anh của Lí Lịch. Lí Lịch là người hiền năng, lại có con trai là bậc thánh đức là Xương. Thái Vương muốn Lí Lịch kế vị tiện truyền ngôi cho Xương. Thế là Thái Bá và Trọng Dung chạy tránh xuống miền man di gai góc, xăm mình cắt tóc như người bản địa, tỏ ý bản thân không dùng được nữa để tránh nhường Lí Lịch. Lí Lịch quả nhiên kế vị,…” (“Ngô Thái Bá, Thái Bá đệ Trọng Dung, Chu Thái Vương chi tử, nhi Vương Lí Lịch chi huynh dã. Lí Lịch hiền, nhi hữu tử Xương, Thái Vương dục lập Lí Lịch dĩ cập Xương. Vu thị Thái Bá, Trọng Dung nãi bôn kinh man, văn thân đoạn phát, thị bất khả dụng, dĩ tị Lí Lịch. Lí Lịch quả lập…” (史記卷三十一吳太伯世家Sử Kí, quyển 31).

[12] Liên quan đến nhận định về Hegel trong đoạn trên xin xem Phan Ngọc (1994) [8 tr.387-388]. Sử liệu về thời đại La Mã ngũ đế truyền hiền xin xem Nguyễn Hiến Lê (1998) [9 tr.124]. Trong đó Nguyễn Hiến Lê nói rõ ông căn cứ vào Will Durant, The Lessons of History, New York, 1968. Liên quan đến chủ đề truyền tử truyền hiền trong lịch sử Trung Quốc có thể xem thêm, chẳng hạn Sarah Allan《世襲與禪讓古代中國的王朝更替傳說》北京大學出版社, 2002 Thế tập dữ thiền nhượng – cổ đại Trung Quốc đích vương triều canh thế truyền thuyết, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, 2002.

Tài liệu tham khảo:

[1] 吳敬梓儒林外史(清凉布褐陈美林批评校注)新世界出版社 出版, 2001.

[2] Ngô Kính Tử, Chuyện Làng Nho, Tập 2, Nxb.Văn Học, Hà Nội, 2001.

[3] 《胡適文存》遠東公司, 1953.

[4] 周月亮“誤解與反諷—略論《儒林外史》所揭示的文化與現狀的矛盾”《清華大學學報》, 1996.

[5] 夏志清《中国古典小说史论》 江西人民出版社, 2001.

 [6] 金穀治譯注《論語》岩波文庫, 1999.

[7] 司馬遷《史記》中華書局, 1982.

[8] Phan Ngọc, Văn hóa Việt Nam và Cách tiếp cận mới, 1994, Nxb.Thanh Niên, 2000

[9] Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc, Nxb.Văn Hóa, 1998.

[10] 黎时宾 (Thoi Tan Le)《儒林外史》新诠 (博士论文-导师陈洪教授)南开大学文学院中文系5/2004

[11] 黎时宾, “从“泰伯大祭”的处理看《儒林外史》的叙策略” (Lê Thời Tân, Tùng “Thái Bá Đại Tế” đích xử lí khán Nho Lâm Ngoại Sử đích tự sự sách lược-Sách lược tự sự tiểu thuyết Nho Lâm Ngoại Sử nhìn từ màn “Thái Bá Đại Tế”), 《南开大学学报》 (Nam Khai Đại Học Học Báo), Thiên Tân – Trung Quốc, số tháng 8/2004.

[12] Lê Thời Tân, “Cấu trúc thể loại tiểu thuyết Nho lâm Ngoại sử (Bản dịch tiếng Việt: Chuyện làng Nho), Tạp chí Khoa học (Journal of Science Các ngành Khoa học Xã hội Social Sciences), Đại học Vinh, tập 36, số4B, 2007, tr.54-65, ISSN 1859-2228

[13] Lê Thời Tân, “Kẹt giữa Đạo-thống và Thế-quyền – Thân phận của kẻ sỹ (Thức nhận trở lại chủ đề Nho lâm Ngoại Sử”, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, số 200, 10/7/ 2011, tr.24-28.

[14] Lê Thời Tân, “Thực chất vẻ đẹp hình tượng Vương Miện và tư tưởng hồi truyện mở đầu tiểu thuyết Nho Lâm Ngoại Sử”, Tạp chí Khoa học (Khoa học Xã hội&Nhân văn), Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh (Ho Chi Minh City University of EducationJournal of Science, Special Issue: Social Sciences and Humanities), số 46(80) tháng 5/2013, tr.68-75, ISSN: 1859-3100

[15] Lê Thời Tân, “Từ kinh điển trang nghiêm đến tiểu thuyết hoạt kê – một cách đọc hiểu liên văn bản (Đọc hiểu Nho lâm Ngoại sử bằng từ khóa Luận Ngữ)”, Tạp chí Khoa học (Khoa học Xã hội&Nhân văn), Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, số 52(86) tháng 11/2013, tr.88-96, ISSN: 1859-3100

[16] Lê Thời Tân, “Hình tượng nhân vật mở đầu và mối liên hệ với chủ đề tác phẩm trong tiểu thuyết Nho Lâm Ngoại Sử”,  Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Journal of Science of HNUE, Social Sci., 2013, Vol.58,  No.6, pp.32-38.), Tập 58, số 6, 2013, tr.32-38; ISSN 0868-3719

[17] Lê Thời Tân, “Đọc Nho lâm Ngoại sử – Thức nhận lại chế độ khoa cử”, Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và Châu Á (Vietnam Review of Indian and Asian Studies), Viện HLKHXHVN, số 8 (9), 8/2013, tr.61-65; ISSN: 0866-7314

[18] Lê Thời Tân, “Thủ pháp tự sự mới về nhân vật của Nho lâm Ngoại sử và việc tái thức nhận chủ đề cuốn tiểu thuyết”, Tạp chí Khoa học Văn hóa&Du lịch, Trường Cao đẳng Văn hóa&Du lịch Sài Gòn, số 14 (68), tháng 11/2013, tr.88-98, ISSN: 1809-3720

[19] Lê Thời Tân, “”Lộn trái” một hình tượng mở lối tìm hiểu tư tưởng chủ đề Nho lâm Ngoại sử”, Tạp chí Khoa học (Journal of Science) Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh, số 1 (34) – 2014, tr.64-74, ISSN: 1859-3453

[20] Lê Thời Tân, Hình tượng cuồng nho Đỗ Thiếu Khanh và chủ đề tác phẩm Nho Lâm Ngoại Sử (Trao đổi cùng nhà nghiên cứu Hạ Chí Thanh)”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học-Viện Hàn Lâm KHXHVN, số 10, 10/2014, tr.107-113, ISSN 1859-2856

Nguồn: Bản đăng trên Phê bình văn học do tác giả gửi

Leave a Reply