Truyện ngắn ở Thành phố Hồ Chí Minh: một vài ghi nhận


Lê Văn Thảo – Huỳnh Như Phương

 Hình thành từ khi Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh làm kinh lược sứ lập dinh Trấn Biên và Phiên Trấn cách nay hơn 300 năm, Thành phố Hồ Chí Minh – tên gọi được chính thức xác định khi nước Việt Nam thống nhất năm 1975, bao gồm địa bàn Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định trước đây – có một lịch sử đặc biệt và một số phận khác thường.

Trong ba thế kỷ xây dựng và phát triển của nó, Thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua nhiều chế độ khác nhau: phong kiến, thuộc địa, tư bản – thực dân cũ và thực dân mới – và nay là xã hội chủ nghĩa. Nó đã chứng kiến và chịu ảnh hưởng của nhiều sự kiện lịch sử lớn lao làm biến đổi xã hội và con người: cuộc xâm lược của những đoàn quân viễn chinh; những cuộc nổi dậy và kháng chiến giành độc lập; sự tiếp xúc với nền văn minh phương Tây; những cuộc di dân từ miền Bắc, miền Trung, từ nông thôn miền Đông và miền Tây Nam Bộ; những cuộc chính biến và đổi ngôi của các thế lực cầm quyền…

Tất cả những điều đó đã làm cho thành phố này mang một cấu trúc đa dạng và đa sắc trong tiến trình lịch sử về mọi lãnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, cơ cấu dân cư, văn hoá, tư tưởng và cả văn học nghệ thuật. Trong những giai đoạn chuyển tiếp của lịch sử, thành phố này từng là hợp thể của những đối cực về văn hoá mà những giá trị thực sự muốn giành vị trí để được thừa nhận rộng rãi nhiều khi phải trải qua nhiều thời gian tranh cãi, thuyết phục. Cho đến nay một công trình tổng kết đầy đủ hành trình văn hoá, văn học của 300 năm lịch sử thành phố vẫn là dự án còn ở phía trước.

Chỉ tính riêng 37 năm từ ngày đất nước thống nhất, việc tổng kết những thành tựu trên lĩnh vực văn học cũng chỉ là công việc bước đầu. Những cuốn sách tập hợp và tuyển chọn tác phẩm văn học của người thành phố hay viết về thành phố, bao gồm cả một số tác giả định cư ở nước ngoài, hiện chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Khó khăn đặt ra ở đây không chỉ về tư liệu mà còn về một quan niệm, một cách nhìn thoả đáng, có khả năng được sự đồng thuận trong văn giới, đối với những giá trị cần được khẳng định và lưu giữ.

Người viết truyện ngắn ở thành phố hiện nay có đến cả trăm, với những phong cách khác nhau, chọn những tác giả nào đại diện cho một nền văn xuôi là chuyện không dễ. Mỗi tác giả lại không phải chỉ có một tác phẩm hay, chọn truyện ngắn nào tiêu biểu cho một phong cách cũng là chuyện phải cân nhắc. Truyện ngắn hay với người này chưa chắc đã hay với người khác, tác phẩm được bạn đọc trong nước hoan nghênh có thể nhận sự thờ ơ của bạn đọc nước ngoài.

Những nhà văn cao niên viết truyện ngắn ở TP. Hồ Chí Minh hầu hết là những người đã tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ: Sơn Nam, Trang Thế Hy, Trần Kim Trắc, Đoàn Giỏi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Trần Thanh Giao, Đoàn Minh Tuấn, Đinh Phong… Sau năm 1954, nhiều người thuộc thế hệ của họ tập kết ra miền Bắc theo quy định của Hiệp định Genève, và chấp nhận tình cảnh bị cắt đứt với cái nôi của phong tục và ngôn ngữ miền Nam. Chính vì vậy mà ở trên miền Bắc, họ hầu như chỉ viết về thiên nhiên và con người nơi quê hương xa cách với những hồi ức và kỷ niệm. Điều đó lại tiếp tục khi họ trở về quê hương, ngay khi cuộc chiến tranh chống Mỹ đang hồi ác liệt hay khi đất nước đã thanh bình, đoàn tụ. Trần Kim Trắc, vốn được biết đến nhờ một vài truyện ngắn được phổ biến thời chống Pháp ở Nam Bộ, ra đến miền Bắc, vì một lý do riêng, đã ngưng sáng tác cho đến ngày trở về miền Nam sau 1975, mới cầm bút trở lại và khai thác những câu chuyện ngày cũ bị bỏ dở. Đoàn Giỏi nổi tiếng ở miền Bắc với tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, kết hợp đặc sắc chất phương xa và nghệ thuật miêu tả phong tục, khi trở lại cố hương tiếp tục phát huy thế mạnh của mình qua câu chuyện Tiếng gọi ngàn.

 Cùng thế hệ đó, trên miền Bắc, Bùi Đức Ái, Nguyễn Sáng kịp xuất bản một vài cuốn sách với tên thật thuở mới vào nghề, trước khi đổi bút danh thành Anh Đức và Nguyễn Quang Sáng để trở về miền Nam tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cùng với Nguyễn Thi, Trần Hiếu Minh, Đinh Quang Nhã, Võ Trần Nhã… Trong khi đó, Viễn Phương, Trang Thế Hy ở lại Sài Gòn, chịu cảnh tù đày rồi thoát ra chiến khu, nơi “tập kết” mới không chỉ của những người đi từ Bắc vô Nam dọc con đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, mà cả những người trẻ hơn, từ bỏ cuộc sống thị thành, chấp nhận cầm bút viết văn trong hoàn cảnh đối diện với cái chết, như Lê Văn Thảo, Nguyễn Hồ, Lê Văn Duy… Có thể nói họ những nhà văn am hiểu sâu sắc cuộc sống và con người Nam Bộ trong kháng chiến lần thứ hai.

Những người ra đi từ miền đất này, mãi hơn 20 năm sau, mới gặp lại nhau trên thành phố Sài Gòn, nay đã đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh: người theo chân chiến dịch Hồ Chí Minh về sớm, người giã từ Hà Nội hồi hương muộn hơn đôi chút. Họ cũng gặp gỡ những nhà văn từng sống và cầm bút trong nội thành (Sơn Nam, Vũ Hạnh, Nguyễn Nguyên, Lưu Nghi, Trần Hữu Lục, Mường Mán, Hoàng Ngọc Tuấn, Đoàn Thạch Biền…), những nhà văn quê gốc miền Bắc định cư ở thành phố (Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nhật Tuấn, Trần Văn Tuấn, Văn Lê, Triệu Xuân, Lê Điệp, Dương Trọng Dật, Hoàng Đình Quang, Nguyễn Quốc Trung…) cùng với những cây bút thuộc thế hệ mới, trẻ hơn, những người chung một niềm khát khao xây dựng nền văn học trên đất nước nay đã hoà bình độc lập, trong một hoàn cảnh không phải đã hết những ngộ nhận và mặc cảm về nhau, những ngộ nhận và mặc cảm mà tất cả đều biết rằng sự giải toả bằng ứng xử nghề nghiệp và bằng chính ngòi bút không phải là chuyện một sớm một chiều.

Không phải ngẫu  nhiên mà Bàn thờ tổ của một cô đào (Nguyễn Quang Sáng), Tiếng hát và tiếng khóc (Trang Thế Hy) cùng đặt vấn đề về lý tưởng nghề nghiệp, quan niệm nghệ thuật và sứ mệnh của người nghệ sĩ. Người viết văn cũng như đào cải lương Thanh Sa, vừa phải diễn cho hay đồng thời vừa phải để công chúng tôn trọng về nhân cách. Dù là đối thoại bằng ngôn ngữ dân dã hay hơi văn hoa, trí thức, những nhân vật ấy ý thức rằng nghệ thuật luôn đặt trên một niềm tin về lý tưởng. Có tra vấn về lý tưởng, nhưng họ không quá dằn vặt, không đến mức phải cố gắng để mà sống, lại càng không rơi vào tình trạng khủng hoảng lòng tin.

Trong những nhà văn cao niên, Mạc Can là một trường hợp đặc biệt: là một nghệ sĩ ảo thuật, ông bước vào nghề văn khá muộn, hoàn toàn như một người “tự đào tạo”. Khẩu thuật là truyện ngắn tiêu biểu gắn liền với vốn sống do nghề nghiệp đem lại cho ông. Nó cũng thể hiện cách viết sở trường của Mạc Can: “người nói giọng bụng” là tiếng nói thứ hai từ trong tiềm thức của ông, nó là tiếng nói của tấm lòng, của sự chân thành trước khi là tiếng nói của tài năng.

Như một quy luật, nếu biểu đồ sáng tác của những nhà văn cao niên ngày càng thưa thớt, thì ấn phẩm của thế hệ trẻ ngày càng dày lên trên các kệ sách. Ở tuổi đôi mươi khi miền Nam đổi thay chế độ, Nguyễn Thị Minh Ngọc là Nguyễn Thị Ngọc Minh, Ngô Thị Kim Cúc là Vô Ưu mà truyện ngắn được chú ý trên báo định kỳ của Sài Gòn thời cũ, hơn ba thập kỷ qua đã cùng Lý Lan, Nguyễn Đông Thức… làm chứng cho những đổi thay trong bước chuyển xã hội nhiều khi làm quặn thắt lòng người.

Không có gì khó hiểu khi tác phẩm của thế hệ chuyển tiếp này mang dấu ấn bi kịch của xã hội. Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Ngọc, Lý Lan  mang không khí bước chuyển của thời đại, đồng thời với dấu hiệu của tuổi trẻ hoang mang và khủng hoảng. Nhân vật không những tra vấn về lý tưởng mà còn tự tra vấn về chính sự hiện hữu của mình. Sống, bây giờ, đối với họ là một cố gắng. Đi tìm căn cước của chính mình giữa một thế giới chuyển động ở ngoài ý muốn, nhân vật trong Cô con gái của Lý Lan đối mặt với sự giả dối, khi mà “nói dối trở thành một nghệ thuật sống”. Ý tưởng này còn bắt gặp trong ẩn dụ về Rượu của Nguyễn Đông Thức: nhà văn mượn chuyện lẫn lộn rượu thật, rượu giả để nói về chuyện thật giả ở đời vốn khó lường.

Ở những nhà văn trẻ hơn, hầu hết lớn lên sau ngày hoà bình, nhận thức về đời sống gắn liền với ý thức về số phận tuổi trẻ trong bối cảnh mới của xã hội. Trên một phối cảnh rộng, những truyện ngắn về chủ đề “vào đời” của Phan Triều Hải, Tiến Đạt… phơi bày một đời sống đa diện. Trên một trắc diện hẹp, truyện ngắn Có con của Phan Thị Vàng Anh bộc lộ nỗi hoang mang trong tình cảm lẫn lộn mơ hồ của một cô gái với cái bào thai dường như đang tượng hình trong bụng: một mặt, nó như cái neo của tình yêu; mặt khác, nó đe doạ tự do sống và tự do chết của chính mình.

Trong kháng chiến, các nhà văn ít viết chuyện gia đình, nếu có thì cũng là nhân đó nói chuyện chiến đấu, chuyện xã hội. Khi hoà bình trở lại, những biến chuyển xã hội dội vào bên trong gia đình, cá nhân đối mặt với khủng hoảng và bi kịch ngay trong tổ ấm của mình. Những gì mà lịch sử tưởng rằng đã giải quyết trên bình diện xã hội, thì lại ngấm ngầm gây ra những vết thương ở đằng sau những cánh cửa. Chị em, một truyện ngắn cảm động của Nguyễn Thị Châu Giang, cho thấy thiện ý của con người nhắm đến sự hoà giải trong một gia đình sau chiến tranh.

Có thể thấy cái nhìn ưu tư và dằn vặt về đời sống trong nhiều truyện ngắn của Trần Nhã Thuỵ, Vũ Đình Giang, Nguyễn Vĩnh Nguyên, nhưng cách ứng xử để giải quyết thì mỗi người mỗi vẻ. Đối mặt với vấn đề thế sự qua những cảnh đời oan khổ trên đất nước hiện nay, truyện ngắn Đất của Nguyễn Danh Lam có dáng dấp một truyện vừa thu gọn, kế thừa truyền thống hiện thực của văn xuôi viết về người nông dân bị cách ly khỏi mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình. Nhưng nếu các tác phẩm trước đây của Võ Hồng, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam gắn với nông thôn thời chiến qua số phận của những người nông dân chân lấm tay bùn, thì truyện ngắn của Nguyễn Danh Lam nói đến cuộc đổi dời gây chấn thương trong tâm hồn những người trẻ vừa rời ghế nhà trường. Không có những tìm tòi nghệ thuật, Đất của Nguyễn Danh Lam khiến người ta chú ý vì nó cho thấy những nhà văn trẻ vẫn không quay mặt với đám đông khốn khổ và vẫn muốn xem văn học như những lời cảnh báo.

Nhiều cây bút trẻ hiện nay chủ yếu sống ở miền Nam, nhưng họ không ngại viết về những con người của Hà Nội và nông thôn miền Bắc. Dễ hiểu thôi, đất nước bây giờ đã thống nhất, người vùng này đi lại, giao tiếp nhiều ở vùng kia, ngôn ngữ địa phương từng bước hoà trộn vào ngôn ngữ dân tộc. Những nhà văn trẻ bây giờ không còn sự dè dặt của những nhà văn đàn anh sống trên đất Bắc để chỉ viết về quê hương bản quán. Sự hội nhập về văn hoá sẽ dẫn đến sự hội nhập về ngôn ngữ và việc đi tìm ngôn ngữ Nam bộ thuần khiết chắc sẽ khó khăn, cũng như không còn cần thiết, trong một thành phố đa dạng về dân cư như Thành phố Hồ Chí Minh.

Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố ở bến sông, gần cửa biển, đã chứng kiến những cuộc giao lưu và tiếp biến văn hoá. Văn học thành phố vẫn không thôi nuôi khát vọng mở cửa ra với thế giới. Qua tấm gương của truyện ngắn, bạn đọc có điều kiện cảm nhận được những nét chính trong sự phát triển của văn xuôi nghệ thuật ở thành phố này.

Sức sống của truyện ngắn ở TP. Hồ Chí Minh thể hiện rõ nhất trong sinh hoạt báo chí. Như thông lệ, vào độ cuối năm, các toà soạn báo tập trung làm báo Tết. Mỗi tờ báo Tết đều phải chuẩn bị vài ba truyện ngắn của những tác giả được ưa thích. Có tác giả ăn khách một cái Tết đăng được ba, bốn truyện ngắn, nhận tiền nhuận bút gần bằng nửa năm lương công chức. Muốn vậy, người viết phải chuẩn bị từ mấy tháng trước, suy nghĩ đề tài nào phù hợp với mùa xuân, cốt truyện hấp dẫn nhưng đừng buồn quá. Viết xong rồi, nếu không phải chính toà soạn đặt bài, thì còn cân nhắc nên gửi cho báo nào để chắc chắn được sử dụng.

Khoảng 20 năm nay, từ khi hệ thống báo chí nước ta phát triển đa dạng, truyện ngắn là thể loại văn học được hưởng lợi nhất. Hàng tuần báo nào cũng giới thiệu truyện ngắn, có truyện ngắn với tư cách “đoản thiên tiểu thuyết”, truyện ngắn 1.200 chữ, truyện ngắn trong lòng bàn tay, truyện ngắn “vi hình”, truyện cực ngắn và tuyệt ngắn. Nhiều tập truyện ngắn là kết quả một thời gian tác giả “cày bừa” trên mặt báo, sau đó tập hợp lại thành sách. Cứ trung bình một truyện ngắn đăng báo được trả hai triệu đồng, viết 12 truyện sẽ được khoảng 24 triệu; nhưng nếu những truyện đó in thành sách, với tirage 1.000 bản thì nhuận bút cũng chỉ bằng một phần ba số đó.

Như vậy, hiện nay cả về sức phổ biến lẫn sự đãi ngộ, báo chí trở thành bà đỡ cho truyện ngắn. Mặt báo là nơi tập dượt và thi thố của các tài năng văn xuôi. Hầu như không một người viết truyện ngắn đích thực nào thành danh mà không đi vào thế giới văn chương qua cửa ngõ của báo chí. Tình hình này khác với báo chí miền Bắc trong chiến tranh, lúc truyện ngắn chỉ xuất hiện trên một số tờ báo định kỳ và hầu như vắng mặt trên nhật báo. Còn ở miền Nam thời ấy, nhật báo lại ưu tiên cho tiểu thuyết feuilleton, có tờ mỗi ngày đăng cùng lúc sáu tiểu thuyết; trong khi các tạp chí văn nghệ mới là đất dụng võ của truyện ngắn.

Thật thú vị khi chứng kiến hiện tượng không hề ngẫu nhiên này: trước đây ở Sài Gòn các nữ sĩ nổi tiếng đều viết tiểu thuyết. Đó là Bà Tùng Long, Tuý Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Lệ Hằng… Còn hiện nay thế mạnh của những cây bút nữ ở thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu là truyện ngắn: Lý Lan, Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Dạ Ngân, Bích Ngân, Hồng Duệ, Phan Thị Vàng Anh, Trầm Hương, Hiền Phương, Phạm Thị Ngọc Liên, Lưu Thị Lương, Nguyễn Thị Châu Giang, Phan Hồn Nhiên, Trầm Hương, Nguyễn Thu Phương, Kim Quyên, Thu Trân, Nguyễn Thuý Ái, Dương Thuỵ, Liêm Trinh… Nói như vậy không phải là phủ nhận những cuốn tiểu thuyết hay của các nhà văn nữ; nhưng rõ ràng là họ chiếm lĩnh thị trường chữ nghĩa chủ yếu ở lĩnh vực truyện ngắn. Thật sự chưa lúc nào trên địa bàn này có nhiều nhà văn nữ viết truyện ngắn như hiện nay.

Một cái lợi nữa của người viết truyện ngắn hiện nay là những thiên truyện thành công thường được in lại nhiều lần trong các tuyển tập. Dạo một vòng qua các hiệu sách, ta sẽ thấy một loạt sách Truyện ngắn hay, Truyện ngắn nữ, Truyện ngắn trẻ… Trên cái nền chung đó, chọn lựa một tập truyện ngắn của những tác giả thời danh để dịch sang tiếng Anh nhằm quảng bá cho văn học Việt Nam là việc khả thi.

Có thể nói truyện ngắn vẫn đang được những cây bút thuỷ chung bền bỉ khơi dậy sức sống tiềm tàng của nó. Đối với những nhà văn cao niên đã từng thao dượt và thu hoạch thành quả trên nhiều thể loại, nếu độc giả không còn trông đợi ở họ những bộ tiểu thuyết dài hơi, thì vẫn có hy vọng gặp lại cái duyên của ngòi bút họ qua những thiên truyện ngắn. Đọc những tập truyện của những phong cách đã định hình, bạn đọc phát hiện những ý tưởng thâm trầm ẩn chứa trong những cốt truyện và tính cách được sáng tạo từ những trải nghiệm lịch lãm. Còn với những nhà văn trẻ thì sức khai phá của thể truyện ngắn chứa đựng nhiều hứa hẹn chưa thể nào tiên đoán hết.

Tất nhiên, cũng như các thể loại khác, trong cái biển truyện ngắn hiện nay, bên cạnh những tác phẩm đặc sắc, những tác phẩm trung bình và tẻ nhạt nhiều không kể xiết. Điều này khiến cho một số người lo âu rằng sự phát triển về số lượng sẽ mâu thuẫn với chất lượng. Nhưng thử hỏi, ngay trong thời bao cấp, việc công bố tác phẩm hết sức khó khăn, bản thảo phải sắp hàng chờ đợi lâu, mà chất lượng cũng có phải tương xứng đâu! Thành ra, trong cuộc sống căng thẳng và bận rộn này, độc giả đừng sốt ruột thêm với văn chương, cứ thong thả mà đọc, trong năm bảy tập truyện gặp một cuốn hay, trong một cuốn gặp vài truyện hay, hẳn đó là niềm vui không dễ dãi mà cũng không uổng phí.

Nguồn: Bản tác giả gửi http://phebinhvanhoc.com.vn.Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply