Tiểu thuyết lịch sử: thành tựu và triển vọng


Thu An

Tiểu thuyết là cỗ máy cái của văn học. Việc thiếu vắng thành tựu của thể loại này là một chỗ trống đáng buồn cho bất cứ nền văn học nào. Ở nước ta mười năm qua, tiểu thuyết nở rộ và đã có những thành tựu nhất định. Bên trong cái bộn bề và đa dạng của bức tranh tiểu thuyết thập kỷ qua, có thể nhận thấy tiểu thuyết lịch sử là dòng chủ lưu và có nhiều đóng góp về tư tưởng và nghệ thuật cho thể loại này.

Trong mười năm, có rất nhiều tiểu thuyết lịch sử ra đời, trong đó nổi bật nhất là các tác phẩm như Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Hội thề (Nguyễn Quang Thân), Tám triều vua Lý, Bão táp triều Trần (Hoàng Quốc Hải)…Viết tiểu thuyết lịch sử, các nhà tiểu thuyết thường chú tâm đến những sự kiện lịch sử mà qua đó có thể đưa đến một sự thức nhận cho độc giả về hiện tại. Việc Nguyễn Xuân Khánh dựng lại một nhân vật lịch sử là Hồ Quý Ly không hoàn toàn chỉ là phục dựng một thời đại lịch sử ngắn ngủi đã qua. Tác phẩm đánh thức người đọc “tri tân” về những vấn đề của hiện tại: thân phận người trí thức – những cá nhân có tầm nhìn táo bạo đi trước thời đại giữa đám đông quần chúng chung quanh nó. Sự im lặng của nhà văn suốt nhiều năm để lặng lẽ tung ra một tiếng nói có trọng lượng đã khuấy động được văn đàn. Tương tự như vậy, việc lựa chọn thời khắc lịch sử đêm trước ngày toàn thắng của nghĩa quân Lam Sơn trong tiểu thuyết của Nguyễn Quang Thân không chỉ nhằm kiến giải những mối quan hệ quyền lực trong nội bộ nghĩa quân, dự báo những viễn cảnh u ám của người trí thức giữa đám đông võ biền mà còn là một tiếng nói của người trí thức về những vấn đề thời sự đang đặt ra hết sức nóng bỏng. Sự kiện bang giao quá khứ rất khôn khéo nhưng quyết liệt trong lịch sử, những mối tình vượt qua ranh giới quốc gia – dân tộc và quy chuẩn thông thường, tham vọng quyền lực và bi kịch theo sau nó…không chỉ là câu chuyện quá khứ đã hoàn tất. Qua số phận của những nhân vật lịch sử như Từ Đạo Hạnh, Lý Thần Tông, Nguyên Phi Ỷ Lan…với những biến hóa luân hồi và dụng tâm sử dụng kỹ thuật thời gian để xử lý cốt truyện, chắc chắn Võ Thị Hảo không phục dựng lịch sử mà từ màn sương mờ ảo lịch sử/huyền sử để đặt vấn đề muôn thuở về sự sự minh triết của con người trước những cạm bẫy dục vọng, tình yêu, hạnh phúc, đức tin, quyền lực…những vấn đề của thời xưa mà cũng là của con người thời nay. Thêm nữa, trong mắt các nhà tiểu thuyết lịch sử, tâm lý con người quá khứ cũng gồm những khía cạnh chẳng khác xa con người hiện tại bao nhiêu: vẫn chừng ấy thủ đoạn, dục vọng, tham tàn, bạo ngược, đố kị, ngu dốt, bần tiện, cao thượng, hi sinh, ưu tư, cô đơn, yêu nhau và làm khổ nhau như chúng ta hôm nay.

Độc giả tìm đến tiểu thuyết lịch sử không phải để biết Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Trần Khát Chân, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Hoàng Phúc, Từ Đạo Hạnh cách xa chúng ta mấy trăm năm kia phục sức ra sao, nói năng thế nào, đi đứng bằng phương tiện gì…với tư cách văn hóa – phong tục mà ở chỗ họ đã chống chọi với số phận mình trong tư cách con người như thế nào. Do đó, tiểu thuyết lịch sử không phục dựng lịch sử “nguyên si” mà là dùng quá khứ để soi sáng thực tại, cung cấp một nhận thức về thực tại. Vấn đề là ở chỗ, tác giả phải dụng tâm những kỹ thuật nào để thuyết phục người đọc?

Tiểu thuyết lịch sử rất dễ rơi vào mâu thuẫn không thể dung hòa được giữa “tính chân thật lịch sử” đầy quy ước và tính chất hư cấu sáng tạo của văn chương hoặc việc dùng quan niệm ngày hôm nay để kiến giải quá khứ chứ không phải dùng chính con người trong quá khứ để làm vang động hiện tại. Nguyễn Xuân Khánh đã khéo léo kết hợp người kể chuyện ngôi thứ nhất và người kể chuyện ngôi thứ ba đồng thời cũng là nhân vật chính nhằm tái hiện thân phận bi kịch của con người đi trước thời đại, không được cộng đồng thấu hiểu. Tất nhiên, đây không chỉ là sự thay thế cơ học mà kéo theo nó là sự thay đổi của quan điểm lập trường, giọng điệu, các kiểu lời nói, dẫn đến chỗ nhân vật của Nguyễn Xuân Khánh trở thành một kiểu nhân vật – tư tưởng đặc sắc và toàn bộ tiểu thuyết này không chỉ là cuộc đối thoại giữa các nhân vật – tư tưởng như Trần Khát Chân, Hồ Hán Thương, Hồ Quý Ly…mà còn tiến hành một cuộc đối thoại lớn giữa quá khứ và hiện tại, giữa “cải cách” ngày xưa và “đổi mới” hôm nay, giữa các chiều hướng khác nhau trong sự vận động của lịch sử – xã hội hiện tại: canh tân – bảo thủ hay một thái độ thứ ba? Có thể nói, ở một mức độ nào đó, Nguyễn Xuân Khánh là người “đồng bệnh” với Nguyễn Huy Tưởng (Vũ Như Tô), Nguyễn Đình Thi (Rừng Trúc). Ở tiểu thuyết của Nguyễn Quang Thân, ta thấy ngôn ngữ đương đại ùa vào quá khứ với mức độ đậm đặc. Việc lý giải các nhân vật lịch sử, nhất là đặt các nhân vật lịch sử trong mối quan hệ tình yêu và những đòi hỏi thân xác cho thấy cái nhìn phức hợp xuyên thời gian – không gian của tác giả tiểu thuyết. Đây là những tiểu thuyết xuất sắc ở thập kỷ đầu thế kỷ XXI.

Ở ta, tiểu thuyết lịch sử chưa phải là cuộc chơi của những cây bút trẻ người, trẻ nghề. Một là, việc xử lý tư liệu đòi hỏi phải hết sức cẩn trọng, nghiêm túc, tỉ mỉ và tốn nhiều thời gian, công sức. Trên thế giới, trường phái tân lịch sử cho rằng các bộ cổ sử chẳng qua cũng chỉ là những câu chuyện do một cá nhân/tập thể nào đó kể lại, đầy chủ quan và thiên kiến, cái gọi là chân thật lịch sử hết sức mờ ám, không đáng tin cậy, xét một cách rốt ráo thì cũng chỉ là một loại tự sự. Chủ nghĩa hậu hiện đại đặt ra vấn đề siêu hư cấu lịch sử, coi sự kiện lịch sử chỉ là chất liệu của việc hư cấu sáng tạo và các nhà văn có toàn quyền sử lý chất liệu này, bao gồm cả nhại giễu, cóp nhặt (parody, pastiche), thậm chí có thể sử dụng bút pháp “trọng ngôn” mà từ cổ xưa Trang Tử đã dùng để hiện tại hóa và đương thời hóa những phát ngôn của các nhân vật lịch sử. Những quan điểm trên rõ ràng giải phóng tiềm năng sáng tạo của người nghệ sĩ và hứa hẹn sẽ có những tác phẩm lớn. Tuy nhiên, ở ta, lịch sử là thứ ngôn ngữ thánh hiền thiêng liêng, người biên chép lịch sử chẳng khác người biên chép Kinh Thánh, áp lực cộng đồng không cho phép những vĩ nhân đã được đặt trên bệ thờ cùng khói hương và sự sì sụp khấn vái của cộng đồng lại trở thành đối tượng của sự “nhại giễu”, “xuyên tạc”, “báng bổ”, “tầm thường hóa” của lớp hậu sinh.

Viết tiểu thuyết lịch sử tức là chấp nhận sự phán xét của các nhà sử học “khách quan” và “công tâm” cùng đa số công chúng độc giả vốn quen với những “huyền thoại lịch sử”. Đó là một thách thức mà nếu không phải những cây bút già dặn, từng trải, đầy kinh nghiệm như Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân, Võ Thị Hảo thì không thể làm nổi. Trong tiểu thuyết lịch sử, có những bộ tiểu thuyết rất đồ sộ, được viết rất công phu, nhưng chấm hết ở ý nghĩa chiêm bái quá khứ, tôn vinh cái đã được tôn vinh, ít có những cú “đốt” kiểu ruồi trâu đối với hiện tại thì vẫn chưa đạt đến tính tiểu thuyết như nó cần có, dĩ nhiên đành phải “ăn theo” lịch sử. Giá trị chủ yếu của những bộ tiểu thuyết lịch sử này là “phổ cập lịch sử”. Tuy nhiên, ở ta hiện nay vì nhiều lí do, loại tiểu thuyết lịch sử này vô cùng cần thiết và phải được khuyến khích nhiều hơn nữa. Ở những bộ tiểu thuyết loại này, tiểu thuyết làm nhiệm vụ lấp chỗ trống những sự kiện lịch sử vốn hết sức vắn gọn trong các bộ chính sử, truyền cảm hứng tìm hiểu lịch sử dân tộc cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, bản chất của tiểu thuyết lịch sử là tư duy lại lịch sử. Để thực hiện được điều này, tác giả không thể không có một vốn văn hóa phong phú, một vốn tri thức thâm hậu để đối thoại với tiền nhân và hậu thế. Sự từng trải và trường tri thức, tầm kiến văn uyên bác là điều rất cần thiết đối với nhà tiểu thuyết lịch sử. Nói khác đi, tiểu thuyết lịch sử không thể là sản phẩm của sự nóng vội vốn là nhược điểm của những người trẻ tuổi. Ba là, tiểu thuyết lịch sử viết về quá khứ, nhưng là một ngụ ngôn về hiện tại. Sự kiện lịch sử cùng các biến cố và thân phận của các nhân vật lịch sử như Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Từ Đạo Hạnh, Lý Thần Tông, Ỷ Lan…trở thành những công cụ để tác giả vẽ lên mối tương đồng giữa quá khứ và hiện tại. Nó đối thoại với những vấn đề lớn của con người hiện tại thông qua bài học lịch sử. Trên cấp độ nào đó, chuyện đời và những trải nghiệm riêng tư từ vốn sống cá nhân và những kỹ thuật tân kì chưa phải là điều cần thiết nhất đối với nhà tiểu thuyết. Cái chính của tiểu thuyết lịch sử là đón bắt được “chân trời chờ đợi” của đa số độc giả. Mà độc giả của tiểu thuyết hiện nay ở ta, nói cho công bằng, vì rất nhiều lí do, không phải là quần chúng công – nông lam lũ, đang phải vật lộn hàng ngày kiếm sống.

Người đọc tiểu thuyết lịch sử thường hoặc là muốn đào thoát hiện tại, tìm về quá vãng để kiếm tìm một sự đồng vọng hoặc tri âm nào đó mà thực tại không thể đáp ứng được; hoặc cũng có thể, tìm những khốn cùng, bĩ cực của thân phận con người trong lịch sử để xoa dịu chính nỗi đau của mình trong thực tại; hoặc có thể từ vấn đề đã qua trong lịch sử cho độc giả phút thần khải lóe sáng để giải quyết những vấn đề thiết thân của cá nhân, cộng đồng đang trong thời khắc tiến thoái lưỡng nan. Đọc những tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Quang Thân không thể không cho ta những trải nghiệm thẩm mỹ này.                                                                                                             

Nguồn: Chuyên đề do http://phebinhvanhoc.com.vn tổ chức

Leave a Reply